Hành chính điện tử
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tầm quan trọng của công tác kiểm tra nội bộ trường học

Bác Hồ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm tra: “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta vì thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”. Thực tiễn đã minh chứng vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, đặc biệt là kiểm tra nội bộ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển của cơ quan, đơn vị.

Kiểm tra nội bộ trường học  hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt động giáo dục, điều kiện dạy – học, giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà trường, phát triển người giáo viên và học sinh nói riêng. Dưới góc độ quản lý, kiểm tra là thực hiện và thu thập những thông tin phản hồi để kịp thời sửa chữa, điều chỉnh đảm bảo kế hoạch được hoàn thành như dự định. Đó là những tỉ lệ, tiêu chuẩn, những con số thống kê mà nhà quản lý đưa ra để đo lường và điều chỉnh những kết quả hoạt động của cấp dưới nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị. Bằng cách đó nhà quản lý đảm bảo rằng những gì cấp dưới đã làm đúng hoặc chưa đúng kế hoạch đã đề ra.

Trong thời gian qua, các đơn vị[1] đã thực hiện công tác kiểm tra nội bộ (KTNB) cơ bản đảm bảo các quy định, nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, quản trị nhà trường được nâng lên rõ rệt. Các hoạt động giáo dục đi vào nề nếp, kỷ cương. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định trong quy trình và tổ chức thực hiện công tác KTNB ở các đơn vị như: Nội dung kiểm tra dàn trải, chưa có trọng tâm, chưa cụ thể; chưa xác định rõ ràng đối tượng nào thực hiện quản lý, đối tượng nào cần phải kiểm tra (vẫn còn thực hiện theo chu kỳ, tới lượt,…); chưa xác định công việc nào cần được kiểm tra trong năm học; công tác tổ chức từng đợt kiểm tra chưa thực hiện đúng, đủ theo quy trình; tiêu chí để đánh giá, nhận xét chưa định lượng cụ thể, chưa rõ về mức độ cần đạt, chưa thể hiện sự yêu cầu về phát triển chất lượng; biên bản kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức về đánh giá, nhận xét, kết luận, kiến nghị từng nội dung kiểm tra; chưa rút kinh nghiệm/phúc tra sau mỗi đợt kiểm tra.

Để công tác kiểm tra đạt chất lượng, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà trường chúng ta cần xác định rõ một số nội dung sau:

1. Về mục đích và yêu cầu của công tác KTNB[2]

Chúng ta cần trao đổi thêm về nội dung này:

+ Mục đích:

(1) Khi kiểm tra “người kiểm tra” phải đánh giá đúng thực hiện về nội dung được kiểm tra, phải đối chiếu với các quy định, quy chuẩn, yêu cầu….với kết quả công việc của “đối tượng kiểm tra” đã thực hiện để chỉ rõ ra việc làm được, việc chưa làm được, việc làm đúng, việc làm chưa đúng/sai. Từ đó xác định nguyên nhân, trách nhiệm của cá nhân, tập thể. Trong đó, ghi nhận những việc làm tốt, vượt trội để nhân rộng, điển hình…

(2) Khi đã thực hiện xong mục đích (1) thì Thủ trưởng đơn vị (cán bộ quản lý) thấy được những ưu điểm hoặc hạn chế của mình trong công tác quản lý. Từ đó điều chỉnh kịp thời công tác quản lý, chỉ đạo để góp phần xây dựng tốt đoàn kết nội bộ, thúc đẩy hoạt động dạy - học, nâng cao hiệu quả quản trị của đơn vị.

(3) Đối với mục đích này thì cán bộ quản lý của đơn vị phải xác định và tổ chức thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời. Trong đó việc khắc phục hạn chế, thiếu sót là điều phải thực hiện ngay và thường xuyên.  

+ Yêu cầu

(1) Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động kiểm tra đòi hỏi hoạt động kiểm tra, đánh giá phải trên cơ sở pháp luật và tuân thủ nghiêm minh các quy định pháp luật. Kiểm tra phải được tổ chức thực hiện căn cứ phân cấp quản lý, đảm bảo phù hợp với lĩnh vực, chức năng, nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nguyên tắc dân chủ được thể hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể kiểm tra, đánh giá với đối tượng kiểm tra đánh giá, trong nội bộ tập thể đơn vị khi tiến hành kiểm tra. Đảm bảo nguyên tắc khách quan, toàn diện, công khai, kịp thời: Nguyên tắc này xuất phát từ chính bản chất hoạt động kiểm tra là một tất yếu khách quan, là hoạt động có ý thức của mọi tổ chức.

Bản chất hoạt động kiểm tra là xem xét từ đó đưa ra nhận định một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm. Vì thế, hoạt động kiểm tra phải mang tính khách quan. Sự vi phạm nguyên tắc khách quan, sẽ dẫn đến mục đích kiểm tra, đánh giá không đạt được, kìm hãm sự phát triển của cá nhân tổ chức, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời. Kiểm tra là một chức năng quản lý, là công việc của người đứng đầu nên phải thực hiện thường xuyên, không phải khi nắm bắt thông tin phản ánh tiêu cực mới kiểm tra. Kiểm tra phải công khai đó là sự thể hiện dân chủ trong quản lý.

(2) Kiểm tra xem xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, việc chấp hành quy định pháp luật của ngành, lĩnh vực của đối tượng kiểm tra so với các qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật và các hướng dẫn của các cấp quản lý. Yêu cầu của kiểm tra là phải cụ thể, rõ ràng, chi tiết, chỉ rõ những điều làm được, chưa làm được của đối tượng kiểm tra, nguyên nhân của vấn đề.

(3) Đưa ra những nhận xét, kiến nghị, ý kiến giúp cho “đối tượng kiểm tra” triển khai thực hiện nhiệm vụ tốt hơn. Yêu cầu của ý kiến, kiến nghị phải sát thực, khả thi giúp cho cá nhân, đơn vị đảm bảo tiến độ, không ngừng nâng cao chất lượng công việc của mình. Đánh giá xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, việc chấp hành quy định pháp luật của ngành, lĩnh vực trong điều kiện thực tế hiện có. 

(4) Kiểm tra nội bộ là một trong các phương thức quản lý của Người đứng đầu đơn vị, việc kiểm tra do Người đứng đầu triển khai thực hiện tại đơn vị do mình phụ trách, từ việc xác định vấn đề kiểm tra, nội dung kiểm tra, cử người thực hiện kiểm tra… cho đến kết luận về các nội dung kiểm tra. Vì vậy, trong kiểm tra nội bộ thì Người dứng đầu đơn vị vừa là chủ thể kiểm tra vừa là đối tượng kiểm tra.

2. Nội dung kiểm tra

Trong năm học, căn cứ vào Điều lệ các nhà trường, các văn bản hướng dẫn của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, Phòng GDĐT…và tình hình thực tế của đơn vị, Thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra toàn bộ/một số nội dung về việc thực hiện nhiệm vụ và kiểm tra chuyên đ một cách hợp lý, thiết thực để công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao nhất và thực chất.

Trong hoạt động kiểm tra cần chú ý kiểm tra những nội dung sau:

2.1. Đối với công tác quản lý nhà trường

Đây là kiểm tra nội dung về công tác quản lý nhà trường – có thể hiểu rằng: kiểm tra phần việc mà cán bộ quản lý nhà trường thực hiện. Việc kiểm tra này được thực hiện bởi cá nhân/đơn vị quản lý trực tiếp thực hiện (nội dung đã được cụ thể hoá trong Công văn số 2224/SGDĐT-TTr ngày 23/9/2021).

2.2. Công tác quản lý của Tổ và thực hiện nhiệm vụ của viên chức

(1) Kiểm tra công tác quản lý của Tổ trưởng (Tổ chuyên môn, Tổ văn phòng)

 Là cán bộ quản lý kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ trưởng và việc thực hiện nhiệm vụ của Tổ. Các nội dung kiểm tra được lựa chọn trong các nhiệm vụ của từng đối tượng.

(2) Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên[3]

Người đứng đầu đơn vị phải xác định cho thật rõ: Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên và nhân viên đơn vị mình năm nay là nội dung gì? Trong quy định nào trong các quy định/nhiệm vụ đã chỉ ra trong từng vị trí.

Việc xác định đó đước xuất phát từ kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm qua, từ nhiệm vụ năm học này; từ thực tiễn về năng lực cá nhân, từ kết quả kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lý đối với đơn vị, đối với địa phương,…Từ đó, lựa chọn nội dung kiểm tra phù hợp. Tránh dàn trải, gây áp lực và tránh việc xem kiểm tra trong chuyên môn, hành chính, thường nhật là KTNB.

Ví dụ: Kiểm tra nhiệm vụ của giáo viên theo Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT; “Điều 27. Nhiệm vụ của giáo viên (đối với GV trung học) đã nêu 8 nhiệm vụ.

Nếu Hiệu trưởng kiểm tra nhiệm vụ của giáo viên căn cứ vào Điều 27 này thì ghi rõ trong kế hoạch kiểm tra: Điều 27……… Nhưng khi Hiệu trưởng lựa chọn những nội dung cần thiết trong những nhiệm vụ trên thì ghi ra cụ thể nội dung nào. Trong đó, lưu ý tiêu chí để đánh giá để giáo viên thực hiện. Trong thời gian qua, một số đơn vị đã lựa chọn nội dung kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên trong Quy chế chuyên môn hoặc Quy chế làm việc của đơn vị do Hiệu trưởng ban hành.

(3) Kiểm tra các hoạt động khác của nhà trường  

3. Quy trình thực hiện (*)[4]

Bước 1: Xây dựng, ban hành Kế hoạch kiểm tra nội bộ

Về số lần kiểm tra: mỗi học kỳ ít nhất 2 lần (đợt) trong toàn đơn vị, mỗi đợt kiểm tra vài bộ phận/tổ, cá nhân,…. Việc này giúp cho các đơn vị chủ động trong việc tiến hành kiểm tra qua việc ban hành quyết định thành lập Ban kiểm tra nội bộ theo từng đợt; chủ động trong đề cử “người kiểm tra” đáp ứng được yêu cầu về nội dung và đối tượng kiểm tra trong mỗi đợt kiểm tra. Chẳng hạn, trong kế hoạch ghi là đợt I: tháng 09+10 thì lãnh đạo trường sẽ chủ động, linh hoạt trong việc sắp xếp thời gian kiểm tra, nhân sự kiểm tra,…miễn sao kết thúc trước ngày 01/11/…

Bước 2: Thành lập Ban kiểm tra nội bộ (*)

Quyết định thành lập có thể theo học kỳ hoặc theo từng đợt/đột xuất,… Tùy thuộc vào tính chất đợt kiểm tra (Quyết định phải được ban hành trước khi tổ chức kiểm tra ít nhất 7 ngày). Hiện nay, một số đơn vị ban hành quyết định thành lập Ban KTNB của trường cho cả năm học, nhiều thành viên đã xảy ra tình trạng người được kiểm tra cũng có tên trong Ban KTNB; có những nội dung kiểm tra nhỏ, chỉ cần 03 người; trưởng ban mắc phải khuyết điểm là không trưng tập/phân công thành viên của ban tham gia đoàn kiểm tra. Theo đó, vừa mất thời gian, thừa nhân lực, nhưng hiệu quả không cao,…

Bước 3Ban kiểm tra nội bộ xây dựng kế hoạch kiểm tra

Trước khi tiến hành hoạt động kiểm tra (sau khi nhận được quyết định) ít nhất 02 ngày, Trưởng ban kiểm tra (theo quyết định của đợt kiểm tra) xây dựng kế hoạch kiểm tra (căn cứ theo Kế hoạch kiểm tra nội bộ năm học của trường), lưu ý về: thời gian, nội dung (phải đúng nội dung được ghi trong quyết định hoặc kế hoạch của Hiệu trưởng), đối tượng, hình thức kiểm tra và phân công người phụ trách (có mẫu kế hoạch kèm theo).

Bước 4: Tiến hành kiểm tra

Lưu ý: Kiểm tra thực tế về các nội dung theo quyết định kiểm tra; Trưởng ban phân công nhiệm vụ, thành viên kiểm tra trao đổi, thảo luận, làm rõ nội dung kiểm tra; ghi nhận ý kiến phản hồi của đối tượng kiểm tra; tư vấn, kiến nghị đối với đối tượng kiểm tra;

Bước 5: Kết thúc kiểm tra (được hướng dẫn cụ thể trong Công văn số 2224)

Thời gian qua, một số đơn vị, Hiệu trưởng chỉ ký tên, đóng dấu KHÔNG phần ghi ý kiến kết luận của mình vào phần cuối; có đơn vị Hiệu trưởng ghi thống nhất và ký kên, như vậy chưa xác định được thống nhất theo kết luận trong biên bản hay thống nhất kiến nghị,…Theo đó đã không chỉ đạo Ban KTNB những việc tiếp theo (như trên).

Bước 6: Lưu hồ sơ kiểm tra (*)

Thay lời kết, sau đây là một số lưu ý dành cho Thủ trưởng đơn vị

(1) Việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của đơn vị, của cá nhân, tập thế trong đơn vị mình quản lý là một việc làm hết sức cần thiết, quan trọng và đúng chức trách nhiệm vụ được giao;

(3) Việc tự mình nghiên cứu các văn bản có liên quan để áp dụng hay vận dụng vào quá trình quản lý thì buộc bản thân người quản lý phải là người đầu tiên biết, hiểu, nắm vững,…Sau đó, thực hiện hiệu quả về triển khai, hướng dẫn tại đơn vị các quy định có liên quan, giúp mỗi cá nhân nhận thức đúng vị trí, vai trò khi thực hiện nhiệm vụ đồng thời tham gia giám sát quá trình quản lý, điều hành đơn vị.

(4) Phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng để mỗi cá nhân xác định được mục tiêu phấn đấu; tránh trường hợp phân công nhiệm vụ nhưng không xác định được sản phẩm, chỉ tiêu; không rõ trách nhiệm dẫn đến đùn đẩy, đỗ lỗi gây mất đoàn kết, làm giảm uy tín của đơn vị và hình ảnh nhà giáo.

(5) Người quản lý chân chính, nhiệt tình, tâm huyết, cầu thị luôn có tấm lòng bao dung, tự tin và có sức chịu đựng./.

                                                                   Nguyễn Tấn Phát – Phó Chánh Thanh tra Sở

 

[1] Các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học cơ sở và trung học phổ thông, các Phòng GDĐT

[2] Công văn số 2224/SGDĐT-TTr ngày 23/9/2021 của Sở GDĐT Vĩnh Long vể việc hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học.

[3] Công văn số 2224/SGDĐT-TTr ngày 23/9/2021 của Sở GDĐT Vĩnh Long vể việc hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học.

[4] Nội dung này được ghi cụ thể trong Công văn số 2224/SGDĐT-TTr ngày 23/9/2021 của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Long về việc hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học.


Tác giả: Nguyễn Tấn Phát
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết