Chính trị tư tưởng
Kỷ niệm 104 năm ngày sinh của Cố Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa

Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa - Nhà Khoa học Anh hùng lao động đã trọn đời vì đại nghĩa, là tấm gương sáng cho chúng ta, nhất là cho các thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên noi theo trên bước đường đời rèn luyện tâm đức, ý chí và tài năng phụng sự Tổ quốc

Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ai cũng biết đến Trần Đại Nghĩa. Ngày ấy, quân Pháp có xe tăng, đại bác, máy bay, vũ khí tối tân, còn quân dân ta chỉ có vũ khí thô sơ. Một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức giữa ta và địch. Vì vậy, những lời truyền miệng trong nhân dân rằng Bác Hồ đã đưa về nước một kỹ sư chế tạo vũ khí rất giỏi đã làm nức lòng mọi người. Ít lâu sau, chiến công của súng Badôca (Bazooka), rồi SKZ phá tan xe tăng, xe bọc thép, boong ke, lô cốt của giặc Pháp vang dội tin chiến thắng trên khắp các mặt trận dồn về hậu phương thì câu chuyện chế tạo vũ khí hiện đại trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của rừng núi Việt Bắc, được xem như một huyền thoại của cuộc kháng chiến.

Ngày 13 tháng 9 năm 1913, cậu bé Phạm Quang Lễ chào đời trong một gia đình nghèo ở miền quê Vĩnh Long, địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng. Cụ ông là nhà giáo Phạm Văn Mùi giàu lòng nhân ái, làm nhiều việc thiện. Cụ bà là Lý Thị Diệu, một phụ nữ hiền lành, đảm đang, tôn sùng Đạo Phật, trọn đời vì chồng, vì con. Người chị là Phạm Thị Nhẫn hơn em hai tuổi, một cô gái hiếu thảo, vâng lời cha mẹ, giàu tình thương em.

Gia đình ông giáo Phạm Văn Mùi mang đậm nét của truyền thống gia đình Việt Nam, là chiếc nôi nuôi dưỡng phẩm chất, nhân cách, ý chí và tài năng của Phạm Quang Lễ vốn đã có trí thông minh thiên phú. Điều không may là ông giáo qua đời sớm khi Phạm Quang Lễ mới bảy tuổi, nhưng ông thực sự có ảnh hưởng đến ý chí vươn lên sau này của cậu con trai. Đặc biệt, những lời căn dặn cuối cùng của ba trước khi đi xa, được má nhắc lại nhiều lần đã khắc sâu trong tâm khảm của Phạm Quang Lễ: "Con phải trở thành trụ cột gia đình, phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời".

Sau khi ông giáo qua đời, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, bà giáo không quen buôn bán, đã cùng con gái về quê Tam Bình làm ruộng nuôi con trai ăn học ở Vĩnh Long. Hơn bảy tuổi, mồ côi cha, phải xa mẹ và chị, một mình tự lập, tự lo cho bản thân để học tập, nhưng Phạm Quang Lễ được gia đình thầy Năm và các nhà giáo ở trường tiểu học Vĩnh Long quan tâm chăm sóc, đã vượt qua khó khăn ban đầu của tuổi học sinh. Có một lần vì quá nhớ má và chị, ông đã trốn học về nhà nhưng khi thấy má và chị gầy guộc, đen sạm vì công việc đồng áng để nuôi mình ăn học, ông cảm thấy ân hận vì không làm tròn bổn phận. Có thể nói tâm đức của gia đình, của ba, của má và chị đã hun đúc tâm đức bản tính của cậu con trai.

Mùa hè năm 1926, Phạm Quang Lễ tốt nghiệp tiểu học hạng ưu rồi thi đỗ vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho và được nhận học bổng trong bốn năm học (1926-1930). Năm 1930, ông thi đỗ vào trường Trung học đệ nhị cấp và theo học trường Petrus Ký (nay là trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1933, Phạm Quang Lễ đỗ thủ khoa cả tú tài Tây và tú tài bản xứ.

Chứng kiến sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp và sự thất bại của các cuộc đấu tranh, Phạm Quang Lễ nhận ra muốn đánh thắng thực dân Pháp thì phải có chiến lược, chiến thuật và vũ khí. Vì thế, dù đỗ thủ khoa, nhưng ông không ra Hà Nội học đại học mà đi làm ở Toà sứ Mỹ Tho để tìm cơ hội đi học nước ngoài tìm hiểu cách chế tạo vũ khí.

Năm 1935, Phạm Quang Lễ gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938), một Việt kiều Pháp luôn gần gũi và lắng nghe tâm tư nguyện vọng của những người trẻ tuổi có chí hướng giành độc lập dân tộc và tìm cách giúp đỡ họ. Nhận thấy tư chất thông minh hiếm có và hoài bão ra nước ngoài học cách chế tạo vũ khí phục vụ đất nước của ông, nhà báo Dương Quang Ngưu vận động Hội ái hữu trường Chasseloup Laubat cấp một năm học bổng học tại Paris cho ông.

Ngày 5 tháng 9 năm 1935, Phạm Quang Lễ sang Pháp du học. Vượt qua những khó khăn thiếu thốn về vật chất, nỗi buồn nhớ quê hương, nỗi đau mất chị và những hiểm nguy luôn rình rập, ông bước vào nghiên cứu một lĩnh vực mà nhà nước thực dân cấm đoán. Ông làm những điều đó đơn độc một mình với sức mạnh vô song của lòng yêu nước, với quyết tâm, nghị lực phi thường của một sĩ phu thời loạn. Ông kể lại: "Công việc chẳng phải là giản đơn. Không một nước nào trên thế giới lại ngớ ngẩn công bố các tài liệu kỹ thuật quân sự. Đế quốc Pháp đâu phải là điên đến mức để cho một người Việt Nam, kể cả những kẻ đã vào "làng Tây", được đến học ở các trường dạy về vũ khí hay vào làm ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Vì thế, trong 11 năm đằng đẵng ấy, tôi chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn...".

Để nắm vững kỹ thuật quân sự trước hết phải tinh thông kỹ thuật dân dụng, do đó cuối năm 1936, Phạm Quang Lễ nộp đơn và thi đỗ vào Trường Đại học Quốc gia Cầu đường Paris, một trường lớn của nước Pháp với mức học bổng lên tới 1.200 franc/tháng. Ngoài việc học ở Trường Đại học Quốc gia Cầu đường Paris, ông còn nghe giảng ở các đại học danh tiếng khác như Trường tổng hợp Sorbonne, Đại học Mỏ, Đại học Bách khoa, Đại học điện, Học viện kỹ thuật Hàng không và lần lượt thi đỗ các bằng Cử nhân khoa học, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không. 

Ngoài ra, để tìm kiếm các bí mật quân sự, các bản thiết kế vũ khí, Phạm Quang Lễ đã tự học bằng cách làm quen với người thủ thư. Cứ mỗi sáng thứ sáu, ông viết những cuốn sách muốn mượn đưa cho người thủ thư, chiều đến nhận sách và phải trả lại sáng thứ hai để không bị phát hiện. Người ta thấy ông thường xuyên xuống các nhà máy, xí nghiệp, thư viện và đứng hàng giờ trước những thiết bị khí tài trong Viện bảo tàng vũ khí. Suốt bao năm ở nước ngoài, Phạm Quang Lễ không biết gì đến nhảy đầm, rượu tây, mà chỉ nghiên cứu sách. Trung bình cứ 20.000 tên sách mới chọn được một cuốn có liên quan đến vũ khí. Trong số hơn một triệu tên sách ở thư viện chỉ nhặt ra được 50 cuốn. Tuy khó khăn, nhưng sau 11 năm tìm kiếm, Phạm Quang Lễ đã có trong tay hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí, hầu hết là tài liệu bí mật.

Năm 1942, để thực hành những gì đã học, Phạm Quang Lễ sang Đức làm việc cho xưởng chế tạo máy bay Halle và Viện nghiên cứu vũ khí. Mấy tháng sau, thấy không phù hợp, Phạm Quang Lễ trở lại Paris làm cho công ty Sud Avion.

Năm 1946, Phạm Quang Lễ có mặt trong đoàn đại biểu Việt kiều đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: "Nguyện vọng của chú lúc này là gì?". Cảm động trước sự quan tâm của Người, ông trả lời: "Kính thưa Cụ! Nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần". Bác hỏi tiếp: Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú có chịu nổi không? Ông khẳng khái trả lời: "Tôi chịu nổi". Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp lời: "Bây giờ ở nhà kĩ sư và công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu liệu chú có làm được không?"  Ông dõng dạc trả lời: "Tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là sẽ làm được".

Trong những ngày được ở gần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Paris, Phạm Quang Lễ có điều kiện trình bày với Người nhiều kiến thức về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học quân sự. Cảm động trước sự ân cần, chu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo tiếng gọi của non sông đất nước, ông quyết định bỏ chức vụ kỹ sư trưởng trong một hãng nghiên cứu, chế tạo máy bay với mức lương khoảng 22 lạng vàng/tháng thời đó, từ bỏ cuộc sống xa hoa theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước để đem những hiểu biết của mình phục vụ kháng chiến.

Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn tùy tùng cập bến Hải Phòng trong sự hân hoan chào đón của hàng nghìn người. Bảy ngày sau khi về nước (27 tháng 10 năm 1946), Phạm Quang Lễ được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên nghiên cứu cách chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazooka của Mỹ với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cung cấp. Được một thời gian, Bộ Quốc phòng triệu tập ông về gặp Bác Hồ.

Ngày 5 tháng 12 năm 1946, Phạm Quang Lễ tới Bắc bộ phủ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú lại để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng và hết sức nặng nề. Chú cố gắng cộng tác với anh em, ra sức xây dựng ngành Quân giới, phục vụ cho bộ đội. Đó là một việc rất có ý nghĩa đối với dân, với nước. Do vậy, kể từ nay, Bác đặt tên chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam". Bác giải thích ý nghĩa cái tên: "Một là họ Trần, là họ của danh tướng Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó không?". Người căn dặn: "Nước ta thiếu máy móc, thiếu nguyên liệu, thiếu thợ lành nghề. Song giàu về rừng núi, giàu về quyết tâm. Vậy chú phải đưa những cái học ở nước ngoài mà áp dụng vào hoàn cảnh thiết thực ở nước ta, để phụng sự Tổ quốc…" (1).

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trần Đại Nghĩa và các cộng sự của mình khắc phục khó khăn, ngày đêm say mê nghiên cứu khoa học để chế tạo ra các loại vũ khí phục vụ kháng chiến. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng với cây thước tính trong tay trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ Chiến khu. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Badôca 60mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên. Đạn Badôca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán và làm lại từ đầu. Ông cố gắng nhớ lại tất cả những kiến thức về vũ khí để kết nối, tính toán lại. Vì chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng chính tính mạng của chính mình và xương máu chiến sĩ nơi chiến trường. Với quyết tâm và nỗ lực phi thường, cuối cùng súng Badôca được chế tạo thành công (02-1947) với mức đâm xuyên đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch, tương đương với sức nổ xuyên của đạn Bazooka do Mỹ chế tạo.

Ngày 3 tháng 3 năm 1947, đạn Badôca vừa xuất xưởng đã bắn cháy hai xe tăng của thực dân Pháp tại vùng chùa Trầm (Hà Đông), góp phần bẻ gãy cuộc tấn công của quân Pháp ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai và trở thành mốc son của ngành Quân giới Việt Nam. Trong Chiến dịch Thu Đông (1947), súng Badôca bắn thủng tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc.

Việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại Badôca như một huyền thoại và là điều không thể ngờ đến của địch. Từ khi đưa vào sử dụng, Badôca đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn, trở thành nỗi kinh hoàng đối với kẻ địch.

Tuy nhiên, súng Badôca tầm bắn chưa tốt, vì nếu bắn cách xa 100m thì sức phá sẽ kém. Trong khi đó, chiến sự ngày một ác liệt, ngoài Badôca chiến trường cần phải có thêm vũ khí hạng nặng với tính tiện dụng và sát thương cao hơn. Đáp ứng yêu cầu đó, Trần Đại Nghĩa lại ngày đêm miệt mài nghiên cứu. Ông luôn nghĩ về một loại súng thật nhẹ, có thể vận chuyển, mang vác dễ dàng, nhưng lại có sức công phá ngang đại bác. Lúc đầu có người gợi ý làm Badôca cỡ lớn, chuyển đường kính từ 60 ly lên 90 ly nhưng không được, vì những hạn chế kỹ thuật. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ). Đây là loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật Bản (1945). Nhưng công nghệ chế tạo ra nó ra sao, cách thức thế nào thì chỉ những người sáng chế Mỹ mới biết.

Để chế tạo súng không giật, Trần Đại Nghĩa phải lặp đi lặp lại công việc mà các nhà sáng chế Mỹ đã hoàn thành. Với ý thức trách nhiệm và lòng say mê nghiên cứu khoa học, cuối cùng ông và các cộng sự đã chế tạo thành công SKZ với trọng lượng 20kg, đầu đạn lõm cỡ 160mm, đầu đạn xuyên thủng bêtông dầy hàng mét dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch.

Đánh giá về SKZ của Việt Nam, ký giả Lucien Bodart trong cuốn "Chiến tranh Đông Dương" xuất bản tại Paris năm 1963 viết: Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi. Đến trước Chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới đã chuyển vào chiến trường 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn, góp phần giúp bộ đội hạ gục nhiều đồn bốt địch.

Để tiếp tục đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của địch, yêu cầu cấp bách lúc này là phải có các loại vũ khí có sức tiêu diệt lớn, đánh những đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch. Dựa trên thực địa chiến trường, ông đã dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu phương án tối ưu chế tạo thuốc đẩy và đã chế tạo thành công vũ khí mới với tên gọi khiêm nhường "đạn bay". Đạn bay được cấp tốc đưa đến các vùng chiến sự khốc liệt, gây cho địch nhiều hoang mang. Một hàng binh Pháp khai: Ngay cả lính cảm tử của đội quân lê dương cũng có nhiều kẻ muốn chạy sang hàng ngũ Việt Minh để tránh được thảm cảnh gây ra bởi một loại vũ khí mới rất khủng khiếp, chẳng kém gì so với bom V1, V2 thời Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Với những cống hiến đó, năm 1948, đồng chí Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong 10 vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Một năm sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông lần lượt được giao giữ các trọng trách Cục trưởng cục Quân giới (12/1946 - 05/1954) và Cục trưởng Cục Pháo binh (8/1949 - 11/1951). Tiếp đó, năm 1952, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, ông được phong danh hiệu Anh hùng lao động và là một trong bảy Anh hùng lao động đầu tiên của Việt Nam. Trên Báo Nhân dân, số 61 ngày 12 tháng 6 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh C.B, đã viết: là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng lao động trí óc Trần Đại Nghĩa.(2)

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, trên cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, với trí tuệ bác học uyên thâm và kinh nghiệm thực tế từng trải qua chiến tranh thế giới thứ hai và kháng chiến chống thực dân Pháp, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã góp phần quan trọng chỉ đạo công tác kỹ thuật quân sự, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Ông vừa là Thủ trưởng, vừa là người Thầy, Cố vấn khoa học kỹ thuật đa năng, là chỗ dựa cho cán bộ kỹ thuật quân sự của quân đội ta trong cuộc đối đầu trí tuệ chống lại kỹ thuật chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ, từ việc cải tiến vũ khí, khí tài của ta để nâng cao hiệu quả chiến đấu của bộ đội, đến việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chống hàng rào điện tử Macnamara, phá bom từ trường, rà phá ngư lôi, biện pháp chống nhiễu và đánh pháo đài bay B52,…Ông lại tiếp tục đóng góp tinh thần và trí tuệ cho đất nước để tiến tới Đại thắng Mùa Xuân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã có công lớn trong giai đoạn đầu xây dựng Viện Khoa học Việt Nam, định hướng, hình thành và phát triển các ngành khoa học của Viện, từ đội ngũ cán bộ đến cơ sở vật chất.

Giáo sư đi vào cõi vĩnh hằng ngày 9 tháng 8 năm 1997, thọ 85 tuổi. Đảng và Nhà nước ta đánh giá rất cao công lao của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại nghĩa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, xây dựng và phát triển khoa học và kỹ thuật của Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá: "Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã để lại một tấm gương sáng của một nhà trí thức tiêu biểu, mẫu mực và đức độ: Liêm khiết, công tâm; về tài năng: thông minh và sáng tạo, ăn ở đoàn kết, thủy chung, có thể nói là không phụ lòng Bác Hồ đã đưa anh về nước".

Đúng như sự đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nói đến Giáo sư Trần Đại Nghĩa, trước hết phải nói đến những phẩm chất mẫu mực và đức độ của một nhà trí thức tiêu biểu, nghĩa là nói đến tâm đức trong sáng của ông, bởi tâm đức là nền tảng gốc rễ của ý chí và tài năng.

Bản tính tâm đức trong sáng của nhà khoa học tương lai đã được cha mẹ đặt trọn niềm tin khi đặt tên con là Phạm Quang Lễ. Hàng ngày, mỗi lần cha mẹ gọi tên con là một lần nhắc con tu dưỡng rèn luyện tâm đức. Những ngày Phạm Quang Lễ được ở bên cạnh Bác Hồ, Bác đã thấy rõ bản tính tâm đức của nhà trí thức Việt kiều. Do yêu cầu bí mật của thời chiến, khi giao trọng trách Cục trưởng Cục Quân giới, Bác đã đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa. Như vậy, Bác Hồ đã đặt trọn niềm tin vào tâm đức và tài trí của nhà khoa học. Và "anh đã không phụ lòng Bác Hồ đã đưa anh về nước" phụng sự Tổ quốc, đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định.

Tâm đức, bản tính của Phạm Quang Lễ được nuôi dưỡng và hun đúc từ thuở lọt lòng trong một gia đình nhà giáo nghèo, giàu lòng nhân ái ở miền quê Vĩnh Long địa linh nhân kiệt, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, trải qua một quá trình dài rèn luyện, tu dưỡng Tâm Hiếu, Tâm Trung, Tâm Trí, Tâm Nhẫn, làm nhân tạo quả, trở thành Anh hùng Trần Đại Nghĩa, nhà kỹ thuật quân sự lỗi lạc, một đại trí thức tài trí xuất chúng, tiêu biểu của Giới trí thức Cách mạng Việt Nam.

Tổ quốc và nhân dân mãi mãi ghi nhớ công lao và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, nhà khoa học anh hùng đã trọn đời vì đại nghĩa. Cả cuộc đời của ông là tấm gương sáng cho chúng ta, nhất là cho các thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên noi theo trên bước đường đời rèn luyện tâm đức, ý chí và tài năng phụng sự Tổ quốc, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng đất nước giàu mạnh  và bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam./.

                                                                                                                                Hồng Sơn



1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1951-1952), NXB Chính trị Quốc gia, HN 2011, tr.422.

2. Thành Đức, "Huyền thoại nhà khoa học anh hùng", NXB Trẻ, TPHCM 2015, tr.11, 215, 216, 217.

 

Quay lại In bài viết

Các tin liên quan
 Trang đầu    1    Trang cuối  

Hình ảnh hoạt động

Video clip

Tra cứu điểm thi