Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Chiều ngày 20/6/2023, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Nghị quyết số 29-NQ/TW). Hội nghị đã thông qua dự thảo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và khen thưởng cho 05 tập thể và 08 cá nhân có thành tích xuất sắc trong 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW. Trong đó, Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Vĩnh Long cùng với 03 cá nhân được vinh danh khen thưởng.

Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện NQ29 tại Tỉnh ủy Vĩnh Long
Tại Vĩnh Long, Nghị quyết số 29-NQ/TW được triển khai trong bối cảnh giáo dục và đào tạo của tỉnh Vĩnh Long có nhiều thuận lợi từ thành tựu thực hiện các chủ trương, chính sách trước đó của Trung ương và của tỉnh, đồng thời gặp nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng, tác động của kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, UBMTTQVN tỉnh Vĩnh Long và sự phối hợp có hiệu quả của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, ngành Giáo dục Vĩnh Long đã tổ chức tuyên truyền, học tập, quán triệt sâu sắc trong toàn ngành về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, đồng thời cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Sở GDĐT, trong 10 qua thực hiện Nghị quyết, ngành Giáo dục Vĩnh Long đạt được nhiều kết quả nổi bật:
(1) Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện là cơ sở để ngành Giáo dục tham mưu HĐND, UBND ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách khắc phục những hạn chế, bất cập. Đến nay, về cơ bản, các chủ trương của Nghị quyết 29 đã được tỉnh thể chế hóa và được cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thực hiện;
(2) Mạng lưới các trường mầm non, phổ thông được rà soát, sắp xếp hợp lý. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục được đầu tư, trang cấp theo hướng hiện đại và chuẩn quốc gia (tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng hàng năm). Đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 264/398 (66,33%) cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia, tăng 43.43% so với năm 2013).

Trường THPT Nguyễn Hiếu Tự rộng 12.000 m²; Kinh phí xây dựng cơ sở vật chất,
mua sắm trang thiết bị… lên đến 162 tỉ đồng, do Trungnam Group tài trợ hoàn toàn
(3) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển về chất lượng, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn được quan tâm đáp ứng cho nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện GDDT (tỷ lệ GV đạt chuẩn 100% và trên chuẩn đạt 19.21% , tỷ lệ đảng viên trong ngành GD đạt 71,77% (39,55% vào năm 2013). Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý và đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ được quy hoạch được quan tâm. Hiện nay, toàn ngành có 56,5% giáo viên trong danh sách quy hoạch đảm bảo đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bổ nhiệm.

Lãnh đạo 2 đơn vị ký kết hợp tác nghiên cứu khoa học
(4) Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ngày càng đạt chất lượng cao hơn đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao dân trí nhân dân. Vĩnh Long đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2 năm 2015; đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi năm 2016. Hiện tỉnh đang đề nghị kiểm tra, công nhận đạt phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục THCS mức độ 2, XMC mức độ 2. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo. Công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở được quan tâm thực hiện với lộ trình cụ thể.
(5) Chủ động và tích cực trong thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới. Tổ chức biên soạn và triển khai tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Vĩnh Long lớp 1,2,3,6,7,10. Việc lựa chọn sách giáo khoa được thực hiện đúng quy trình, quy định theo yêu cầu là có 01 SGK cho mỗi môn học, sử dụng trong toàn tỉnh. Thực hiện dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đạt hiệu quả nhất định.

Tập huấn triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018
(6) Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh. Từ năm học 2016-2017, ngành tổ chức một kỳ thi chung, lấy kết quả xét tuyển sinh lớp 10 THPT, lớp 10 chuyên, lớp 10 phổ thông dân tộc nội trú và lớp 10 năng khiếu thể dục thể thao. Tuyển sinh lớp 10 năm học 2023-2024 được thực hiện theo hình thức xét tuyển (đối với lớp 10 THPT) và thi tuyển (đối với lớp 10 THPT chuyên). Tổ chức nghiêm túc kỳ thi THPT quốc gia theo quy chế.
(7) Chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ ở từng cấp học. Giáo dục mầm non thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ góp phần giảm tỷ lệ trẻ em SDD toàn tỉnh. Giáo dục phổ thông từng bước chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học. 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học. Hơn 99% học sinh tốt nghiệp THCS. Kết quả tốt nghiệp THPT của tỉnh từ năm 2013 đến nay đạt và vượt mặt bằng chung cả nước (hằng năm đều trên 98%). Nhiều môn có điểm trung bình thi tốt nghiệp đứng top đầu cả nước, đặc biệt môn Sinh học nhiều năm liền có điểm trung bình đứng đầu cả nước.

Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long tuyên dương, khen thưởng em Nguyễn Phan Phương Thùy,
Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đạt giải Ba muôn Toán quốc gia
(8) Toàn ngành đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thông qua nhiều hình thức gắn với các phong trào của ngành “mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; xây dựng văn hóa ứng xử trong nhà trường; đổi mới nội dung, chương trình, hình thức giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, bảo đảm môi trường giáo dục an toàn trong trường học được triển khai mạnh mẽ ở tất cả các cấp học.

Màn đồng diễn thể dục buổi sáng đạt Kỷ lục Việt Nam về số lượng HS tham gia
(9) Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản trị và quản lý chuyên môn góp phần túc đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục. Toàn ngành đã và đang ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, dạy và học; sử dụng hiệu quả các ứng dụng trên môi trường số để thay đổi phương thức dạy và học qua cùng như kiểm tra, đánh giá.

Hội thảo với chủ đề “Chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy online;
Chia sẻ và chuyển giao các công cụ hỗ trợ tiết giảng online cho các trường THPT, THCS, Tiểu học”
Mặc dù đạt được một số kết quả quan trọng nhưng ngành Giáo dục vẫn còn những hạn chế, khó khăn, bất cập như sau:
1. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, vẫn còn thiếu một số cơ chế, chính sách, thiếu văn bản hướng dẫn của Bộ ngành trung ương nên chưa phát huy được hiệu quả của việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ giải pháp của Nghị quyết nên ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành. Công tác quản lý nhà nước về giáo dục giữa ngành và địa phương còn chồng chéo, chưa phát huy tốt vai trò của các bên liên quan.
2. Công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số địa phương chưa phù hợp, chưa mang tính lâu dài theo sự phát triển KTXH của địa phương nên thiếu quỹ đất để mở rộng quy mô trường lớp hoặc đầu tư xây dựng không phù hợp với quy mô phát triển của trường. Còn thiếu nhiều phòng học bộ môn, TBDH để thực hiện chương trình GDPT 2018. Công tác mua sắm TBDH không kịp thời so với yêu cầu (nguyên nhân do khó tìm được vị thẩm định giá thiết bị để lập dự toán mua).
3. Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa phương. Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, một số CBQL năng lực quản trị nhà trường còn hạn chế nên ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả của Chương trình giáo dục phổ thông.
4. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục, trải nghiệm để phát triển đầy đủ phẩm chất và năng lực cho học sinh còn hạn chế về nội dung và hình thức. Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, kỹ năng sống cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức nên hiệu quả chưa cao. Việc xây dựng Văn hóa ứng xử trong trường học chưa đạt kết quả như mong muốn.
5. Hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác quản lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số đơn vị hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
Nhằm tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và Chương trình hành động của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành Giáo dục Vĩnh Long sẽ tiếp tục triển khai thực hiện:
1. Tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn ngành về chủ trương của Đảng đối với việc đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo. Tiếp tục tổ chức triển khai, quán triệt sâu rộng Nghị quyết số 29-NQ/TW và các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Chương trình hành động số 07-CTr/TU, ngày 26/7/2016 của Tỉnh ủy và Quyết định số 2977/QĐ-UBND, ngày 09/12/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 07-CTr/TU nhằm làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của từng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn ngành về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; quan điểm của Đảng coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
2. Tham mưu Bộ, ngành đề nghị xem xét, ban hành các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông một cách đồng bộ, đảm bảo các điều kiện thực hiện và phát triển đội ngũ CBQL, GV, cơ sở vật chất, TBDH,... nhằm thực hiện đổi mới chương trình GDPT hiệu quả. Đồng thời tham mưu UBND tỉnh đề xuất Chính phủ hỗ trợ nguồn vốn ngân sách trung ương để thực hiện chương trình bảo đảm CSVC cho chương trình GDMN và GDPT; xem xét sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để có cơ chế đặt hàng với các trường sư phạm trong việc đào tạo giáo viên cho địa phương, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, bảo đảm việc đào tạo đội ngũ nhà giáo khi ra trường phải được bố trí việc làm phù hợp đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDMN, GDPT và phù hợp với quy định của Luật Giáo dục 2019.
3. Kịp thời tham mưu Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh những vấn đề về giáo dục và đào tạo phù hợp sự phát triển của địa phương trong giai đoạn mới. Tăng cường tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; thống nhất nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình nhằm tạo sự đồng thuận cao và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công cuộc đổi mới và phát triển giáo dục.
4. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, được xem là giải pháp đột phá, đảm bảo nguồn nhân lực để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh nhà. Thực hiện các biện pháp rà soát, đánh giá năng lực thực tiễn, cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn ngành bảo đảm đủ số lượng, đạt chuẩn nghề nghiệp, đồng bộ về cơ cấu và trên chuẩn đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Tăng cường công tác xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong trường học thật sự vững mạnh; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức, trách nhiệm, đạo đức, lối sống của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
5. Tiếp tục tham mưu điều chỉnh quy hoạch phát triển, sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới và hệ thống giáo dục, đào tạo của tỉnh; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ yêu cầu đổi mới. Tập trung công tác quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và phù hợp với nhu cầu đào tạo nhân lực của địa phương; tăng cường đầu tư xây dựng, sửa chữa và nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội triển khai tốt Luật Giáo dục nghề nghiệp.
6. Toàn ngành thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục, tận dụng tiến bộ công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Triển khai các mô hình quản trị nhà trường tiên tiến trên nền tảng số đảm bảo thiết thực và hiệu quả; đảm bảo kết nối, báo cáo liên thông dữ liệu từ cơ sở giáo dục với hệ thống cơ sở dữ liệu toàn quốc ngành giáo dục./.
NHP



.jpg)